CONTACT INFO

BẢN TIN THUẾ CẬP NHẬT THÁNG 7/2020

Cập nhật Công văn

Công văn số 5476/BTC-CST của Bộ Tài chính (“BTC”) ngày 07 tháng 05 năm 2020 trả lời kiến nghị của doanh nghiệp và tổ chức

  • Từ ngày 01 tháng 09 năm 2014, trường hợp doanh nghiệp xuất khẩu, thời điểm ghi nhận doanh thu tính thuế đối với hoạt động xuất khẩu là ngày xác nhận hoàn thành thủ tục hải quan trên tờ khai hải quan, áp dụng cho cả mục đích tính thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và thuế giá trị gia tăng (GTGT) theo hướng dẫn tại Thông tư số 119/2014/TT-BTC.
  • Trả lời kiến nghị về việc BTC cần đưa ra cơ chế pháp lý cụ thể cho việc doanh nghiệp được phép kê khai thuế GTGT đầu vào trong giai đoạn đầu tư khi chưa đáp ứng các điều kiện là doanh nghiệp chế xuất (DNCX) và có thể thực hiện các thủ tục hoàn thuế theo các quy định về thuế GTGT cho giai đoạn đầu tư, theo BTC, Luật Thuế GTGT hiện hành quy định các trường hợp được hoàn thuế: (i) Cơ sở kinh doanh đã đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư mới, đang trong giai đoạn đầu tư có số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư mà chưa được khấu trừ và có số thuế còn lại từ ba trăm triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT; (ii) Cơ sở kinh doanh trong tháng, quý có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ từ ba trăm triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT theo tháng, quý, trừ trường hợp hàng hóa nhập khẩu để xuất khẩu, hàng hóa xuất khẩu không thực hiện việc xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của Luật Hải quan. DNCX không thuộc đối tượng nộp thuế GTGT, theo đó đề nghị thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế GTGT.
  • Về kiến nghị BTC cần xem xét và đưa ra hướng dẫn chung về xử lý thuế TNDN đối với các khoản chi trong các trường hợp doanh nghiệp vi phạm pháp luật chuyên ngành, BTC trả lời trong trường hợp doanh nghiệp có các khoản chi về làm thêm giờ cho người lao động, chi trả tiền lương, tiền công, bảo hiểm cho người lao động nước ngoài hoặc chi khyến mại nếu đáp ứng điều kiện quy định của pháp luật về thuế và pháp luật có liên quan thì sẽ được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.

Hoàn thuế đối với hàng xuất khẩu

  • Về hoàn thuế nhập khẩu trong trường hợp doanh nghiệp nội địa thuê DNCX gia công sản phẩm: Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13, Nghị định số 134/2016/ND-CP không quy định hoàn thuế nhập khẩu đối với trường hợp doanh nghiệp nội địa có hợp đồng gia công xuất khẩu và thuê DNCX gia công, sản phẩm do DNCX gia công nhập khẩu vào thị trường trong nước đã nộp thuế nhập khẩu, sau đó tiếp tục sản xuất, gia công, chế biến để xuất khẩu.
  • Về hoàn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu theo loại hình thuê doanh nghiệp khác gia công một hoặc một số công đoạn sản phẩm: Trường hợp tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa để sản xuất hàng xuất khẩu nhưng không trực tiếp sản xuất toàn bộ hàng xuất khẩu mà đưa một phần hoặc toàn bộ hàng hóa đã nhập khẩu cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện gia công một hoặc một số công đoạn sau đó nhận lại sản phẩm sau khi gia công để tiếp tục sản xuất và xuất khẩu sản phẩm hoặc đưa hàng hóa nhập khẩu vào sản xuất, sau đó thuê tổ chức, cá nhân khác gia công một hoặc một số công đoạn, nhận lại sản phẩm sau gia công để tiếp tục sản xuất và xuất khẩu thì không đáp ứng cơ sở để xác định hàng hóa được miễn thuế theo quy định tại Khoản 3, Điều 12, Nghị định số 134/2016/ND-CP nên không được miễn thuế nhập khẩu đối với phần hàng hóa nhập khẩu đưa đi gia công.

Công văn số 8460/BTC-CST của Bộ Tài chính ngày 13 tháng 07 năm 2020 hướng dẫn giải quyết các khó khăn, vướng mắc do đại dịch COVID-19 và kiến nghị cải thiện môi trường kinh doanh của doanh nghiệp theo Công văn số VBF9620 ngày 09 tháng 06 năm 2020 của Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (“VBF”)

  • Theo quy định tại Khoản 2, Điều 24, Luật Hải quan, chứng từ hải quan có thể là chứng từ điện tử hoặc chứng từ giấy. Chứng từ điện tử phải bảo đảm tính toàn vẹn và khuôn dạng theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử. Như vậy, người khai hải quan có trách nhiệm lưu giữ bản chính chứng từ thuộc hồ sơ của hải quan theo quy định tại Khoản 6, Điều 1, Thông tư số 39/2018/TT-BTC bổ sung Điều 16a để phục vụ cho việc kiểm tra sau thông quan, thanh tra chuyên ngành hải quan; trường hợp chứng từ lưu trữ dưới dạng điện tử thì người khai hải quan phải lưu trữ bản điện tử và bảo đảm tính toàn vẹn và khuôn dạng theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
  • Về thanh, kiểm tra thuế

Thực hiện Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 04 tháng 03 năm 2020 về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, đảm bảo an sinh xã hội ứng phó với dịch COVID-19 (Chỉ thị số 11/CT-TTg), Tổng Cục thuế (“TCT”) đã ban hành các văn bản chỉ đạo toàn ngành: trên cơ sở danh sách doanh nghiệp thuộc kế hoạch thanh tra, kiểm tra năm 2020 đã được phê duyệt, TCT đã chỉ đạo các Cục thuế tiến hành tập trung thanh tra, kiểm tra trước đối với doanh nghiệp có rủi ro cao về thuế. Đối với các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của dịch bệnh, cụ thể như nhà hàng, khách sạn, du lịch, hàng không, … thì chưa thực hiện thanh tra, kiểm tra.

  • Về kiểm tra hải quan

Thực hiện Chỉ thị số 11/CT-TTg và chỉ đạo tại Mục 3 Công văn số 2466/TCHQ-KTSTQ ngày 17 tháng 04 năm 2020 của Tổng cục Hải quan về việc thực hiện Chỉ thị số 11/CT-TTg và Chỉ thị Số 02/CT-BTC đối với công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực hải quan. Theo đó: tạm dừng hoạt động kiểm tra sau thông quan để đánh giá tuân thủ pháp luật của người khai hải quan năm 2020 và các cuộc thanh tra chuyên ngành nếu không phát hiện vi phạm; đối với việc kiểm tra theo dấu hiệu vi phạm, đơn vị đề xuất kiểm tra phải nêu rõ dấu hiệu vi phạm và cần được sự phê duyệt, đồng thời có văn bản thông báo cho doanh nghiệp liên quan để yêu cầu cung cấp thông tin. Nếu doanh nghiệp có ý kiến xin chưa thực hiện kiểm tra do ảnh hưởng của dịch bệnh thì sẽ được cân nhắc, xem xét chấp thuận.

  • Thực hiện chỉ đạo của các nhà lãnh đạo cấp cao Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (“RCEP”) tại Hội nghị cấp cao diễn ra vào tháng 11 năm 2019, các bên tham gia đàm phán Hiệp định RCEP đang nỗ lực, thực hiện các thủ tục cần thiết nhằm ký kết Hiệp định RCEP trong năm 2020. Với vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020, thúc đẩy kết thúc đàm phán và ký kết Hiệp định RCEP là một trong những ưu tiên của Việt Nam trong năm 2020. Việt Nam sẽ tích cực phối hợp với các bên đàm phán để đạt được mục tiêu này.

Thuế Thu nhập doanh nghiệp (“Thuế TNDN”)

Chi phí tiền lương cho người lao động nước ngoài không có giấy phép lao động do dịch COVID-19  

Theo Nghị quyết số 28/NQ-CP ngày 10 tháng 03 năm 2020 của Chính phủ, việc cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài từ vùng có COVID-19 bị tạm dừng. Theo Công văn số 2099/CT-TTHT ngày 25 tháng 06 năm 2020 của Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh, trường hợp Công ty có phát sinh khoản chi trả tiền lương cho lao động là người nước ngoài (Trung Quốc), sang Việt Nam làm việc tại Công ty sau thời gian tự cách ly theo quy định, thì khoản chi phí tiền lương Công ty đã chi trả cho lao động người nước ngoài chưa được cấp Giấy phép lao động trong thời gian thực hiện theo Nghị quyết 28/NQ-CP của Chính phủ, nếu đáp ứng điều kiện theo quy định tại Điều 4, Thông tư số 96/2015/TT-BTC được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN theo quy định.

Ưu đãi thuế TNDN đối với dự án đầu tư sáp nhập  

Theo Công văn số 5998/CT-TTHT ngày 29 tháng 06 năm 2020 của Cục Thuế tỉnh Đồng Nai:

  • Về xác định ưu đãi thuế TNDN đối với dự án đầu tư do nhận sáp nhập :
  • Trường hợp Công ty có dự án đầu tư từ việc nhận sáp nhập theo đúng quy định của Luật Doanh nghiệp, thì dự án đầu tư hình thành từ việc sáp nhập không được xác định là dự án đầu tư mới hoặc dự án đầu tư mở rộng được hưởng ưu đãi thuế TNDN, mà được kế thừa các ưu đãi về thuế TNDN của doanh nghiệp hoặc dự án đầu tư trước khi sáp nhập trong thời gian còn lại nếu tiếp tục đáp ứng các điều kiện ưu đãi thuế TNDN theo quy định.
  • Sau khi thực hiện thủ tục sáp nhập theo quy định, các công ty bị sáp nhập sẽ trở thành chi nhánh của Công ty. Trong trường hợp các chi nhánh (là các cơ sở sản xuất hạch toán phục thuộc đóng trên địa bàn các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác) đang còn trong thời gian hưởng ưu đãi thuế TNDN thì Công ty phải tính riêng thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh của chi nhánh để kê khai, nộp thuế riêng và không thực hiện phân bổ số thuế TNDN phải nộp tại địa phương nơi có chi nhánh theo tỷ lệ chi phí. Số thuế phải nộp tại địa phương nơi có chi nhánh trong thời gian hưởng ưu đãi thuế TNDN được xác định trên cơ sở thu nhập phát sinh tương ứng tại địa phương theo quy định.
  • Về việc chuyển số lỗ của các công ty bị sáp nhập phát sinh trước khi sáp nhập :

Trường hợp các công ty bị sáp nhập nêu trên phát sinh số lỗ trước khi sáp nhập vào công ty thì số lỗ này phải được theo dõi chi tiết theo năm phát sinh và bù trừ vào thu nhập cùng năm hoặc được tiếp tục chuyển vào thu nhập của các năm tiếp theo của Công ty để đảm bảo nguyên tắc chuyển lỗ tính liên tục không quá 05 năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ theo quy định.

Chi phí khấu hao đối với tài sản ngừng sử dụng  

Theo Công văn số 1930/CT-TTHT của Cục thuế Thành phố Hải Phòng ban hành ngày 02 tháng 07 năm 2020, tài sản cố định không dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; không thuộc các trường hợp phải tạm dừng hoạt động do: doanh nghiệp sản xuất theo mùa vụ với thời gian dưới 09 tháng và dừng để sửa chữa, di dời, di chuyển địa điểm, để bảo trì bảo dưỡng theo định kỳ, với thời gian dưới 12 tháng, sau đó tài sản cố định tiếp tục đưa vào phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp không được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế đối với chi phí khấu hao của tài sản đó.

Trường hợp do ảnh hưởng của dịch COVID-19, số lượng đơn hàng của Công ty giảm mạnh, Công ty buộc phải dừng hoạt động của một dây chuyền sản xuất của một sản phẩm dự kiến trong vòng 3 tháng thì Công ty không được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN đối với chi phí khấu hao của TSCĐ trong thời giang ngừng hoạt động này.

Chính sách thuế đối với khoản chi tài trợ

Công văn 64918/CT-TTTHT do Cục thuế thành phố Hà Nội ban hành ngày 13 tháng 07 năm 2020 hướng dẫn trường hợp Công ty tài trợ thiết bị cảm biến tại 24 trạm quan trắc cho UBND Thành phố Hà Nội thì:

  • Về hóa đơn, kê khai, nộp thuế GTGT: Công ty phải lập hóa đơn GTGT, trên hóa đơn ghi đầy đủ các chỉ tiêu và kê khai, nộp thuế như đối với bán hàng thông thường.
  • Về thuế TNDN: Trường hợp khoản chi là tài trợ nghiên cứu khoa học theo đúng quy định, có đầy đủ hồ sơ chứng minh theo quy định Luật Khoa học và Công nghệ thì được tính vào chi phí được trừ; trường hợp khoản này là chi ủng hộ địa phương, thì không được tính vào chi phí được trừ.

Xử lý thuế TNDN khi thay đổi chủ đầu tư vốn do tái cấu trúc trong tập đoàn  

Theo Công văn số 2279/CT-TTHT ban hành ở Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh ngày 14/07/2020, không phát sinh nghĩa vụ thuế TNDN từ việc chuyển nhượng vốn trong trường hợp thay đổi Nhà đầu tư của một dự án tại Việt Nam từ một Công ty con ở nước ngoài sang một Công ty mẹ ở nước ngoài do tái cấu trúc tập đoàn mà không làm thay đổi số vốn đầu tư và đồng thời Công ty (đang thực hiện dự án) có thể chứng minh được rằng vốn đầu tư của Công ty con ở nước ngoài được sở hữu 100% bởi Công ty mẹ ở nước ngoài.

Hồ sơ, thủ tục, hạch toán kế toán khi tháo dỡ một phần TSCĐ

Ngày 21/07/2020, Cục thuế Bắc Ninh ban hành Công văn số 2332/CT-TTHT, theo đó trường hợp Công ty quản lý TSCĐ là hệ thống nhà kho (bao gồm các hạng mục nhỏ như: Nhà kho, nhà locker, nhà vệ sinh, nhà nghỉ mệt, nhà để xe,..) bằng một mã TSCĐ, không tách riêng để theo dõi. Đến nay, do nhu cầu cần nâng cấp để phù hợp với tình hình sử dụng, Công ty muốn phá bỏ hạng mục nhà để xe để xây lại hiện đại hơn, thì việc tháo dỡ hạng mục sẽ làm giảm nguyên giá TSCĐ nhà kho. Công ty phải thực hiện đầy đủ thủ tục quy định (Quyết định bằng văn bản tháo dỡ nhà xe, quyết định/Biên bản thanh lý tài sản,…); xác định giá trị còn lại (của nhà xe), thu nhập do bán thanh lý tài sản tháo dỡ (nếu có). Căn cứ các chứng từ liên quan, kế toán lập và hoàn chỉnh hồ sơ quản lý TSCĐ theo quy định.

Áp dụng tăng trần chi phí lãi vay theo quy định tại Nghị định 68 cho kỳ quyết toán thuế năm 2019 và xử lý hồi tố đối với các năm 2017 và 2018  

Công văn số 2835/TCT-TTKT ngày 14 tháng 07 năm 2020 (CV 2835) của TCT hướng dẫn tổ chức thực hiện Nghị định số 68/2020/NĐ-CP (NĐ 68).

Trong công văn này, TCT hướng dẫn một số nội dung liên quan đến việc áp dụng trần chi phí lãi vay quy định tại NĐ 68 cho kỳ quyết toán thuế năm 2019 và xử lý hồi tố đối với các năm 2017 và 2018. Một số điểm lưu ý như sau:

  1. Đối với kỳ quyết toán thuế năm 2019:
  • Doanh nghiệp đã kê khai quyết toán thuế năm 2019 theo kỳ tính thuế đến hạn trước ngày 31 tháng 03 năm 2020 thì được phép thực hiện kê khai bổ sung để khấu trừ chi phí lãi vay theo NĐ 68.
  • Doanh nghiệp chưa đến kỳ kê khai quyết toán thuế năm 2019 thì thực hiện khấu trừ chi phí lãi vay được trừ theo NĐ 68.
  1. Đối với việc xử lý hồi tố cho kỳ tính thuế TNDN năm 2017 và 2018:
  2. Phạm vi áp dụng
  • Việc xử lý hồi tố chi phí lãi vay khống chế chỉ áp dụng với:
  • Mức khống chế chi phí lãi vay (cụ thể từ 20% lên 30%);
  • Phương pháp tính chi phí lãi vay thuần (lãi vay trừ (-) lãi tiền gửi, lãi cho vay).
  • Không áp dụng hồi tố đối với quy định chuyển tiếp chi phí và đối tượng miễn áp dụng.
  1. Thực hiện bù trừ số thuế TNDN đã nộp trong các năm 2017 và 2018
  • Trong trường hợp tính toán lại theo quy định tại NĐ 68 mà số thuế TNDN giảm thì sẽ được giảm số tiền chậm nộp tương ứng (nếu có), cụ thể:
  • Nếu chưa qua thanh tra, kiểm tra: Người nộp thuế thực hiện bù trừ phần chênh lệch số tiền thuế TNDN và tiền chậm nộp tương ứng vào số thuế TNDN năm 2020, nếu không bù trừ hết, được tiếp tục bù trừ vào số thuế của 05 năm tiếp theo kể từ năm 2020.
  • Nếu đã qua thanh tra, kiểm tra và có kết luận, quyết định xử lý: Người nộp thuế đề nghị cơ quan thuế quản lý trực tiếp xác định lại số thuế TNDN phải nộp. Phần chênh lệch số thuế TNDN phải nộp, tiền chậm nộp tương ứng được bù trừ vào số thuế năm 2020, nếu không bù trừ hết, được tiếp tục bù trừ vào số thuế của 05 năm tiếp theo kể từ năm 2020.

Yêu cầu mới đối với chuyên gia nước ngoài vào Việt Nam làm việc

Văn bản số 3949/CV-BCĐ ngày 24 tháng 7 năm 2020 (VB 3949) của Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch COVID-19 về việc tăng cường đảm bảo phòng chống dịch COVID-19 cho chuyên gia nhập cảnh Việt Nam làm việc.

Theo hướng dẫn của VB 3949, để chuyên gia nước ngoài vào Việt nam làm việc sau ngày 05 tháng 08 năm 2020 thì cần bảo đảm các yêu cầu sau:

  • Chuyên gia được xét nghiệm SARS-CoV-2 bằng kỹ thuật Real time – PCR trong thời gian từ 03 đến 07 ngày trước ngày nhập cảnh vào Việt Nam. Xét nghiệm SARS-CoV-2 phải được thực hiện tại phòng xét nghiệm do Chính phủ phê duyệt hoặc thuộc hệ thống phòng xét nghiệm của Tổ chức Y tế thế giới.
  • Chuyên gia có bảo hiểm y tế quốc tế hoặc cơ quan, tổ chức mời chuyên gia cam kết chi trả chi phí điều trị trong trường hợp bị mắc COVID-19.
  • Đơn vị mời chuyên gia chịu trách nhiệm đảm bảo an toàn phòng chống dịch COVID-19 khi mời chuyên gia vào làm việc.

Lưu ý, VB 3949 không áp dụng đối với các chuyên gia đã có vé may bay và sẽ nhập cảnh vào Việt nam trước ngày 05 tháng 08 năm 2020.

Thuế Giá trị gia tăng (“Thuế GTGT”)

Xử lý thuế GTGT đối với hàng nhập khẩu nhưng không phải thanh toán do không tìm thấy chủ hàng

Theo Công văn số 2318/CT-TTHT ban hành bởi Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh ngày 17/07/2020, trường hợp Công ty có nhập khẩu hàng hóa là nguyên liệu để phục vụ sản xuất từ nhà cung cấp nước ngoài, hàng hóa khi nhập khẩu đã nộp thuế nhập khẩu, thuế GTGT khâu nhập khẩu trước khi thông quan. Công ty đã kê khai khấu trừ thuế GTGT nộp ở khâu nhập khẩu; Công ty đã hạch toán kế toán hàng nhập kho, nợ phải trả khách hàng,… Tuy nhiên, do thời gian đã lâu, công ty không thể xác định được nhà cung cấp để thanh toán khoản nợ chưa trả. Công ty đã ra Quyết định ghi nhận khoản nợ đó không phải trả và đồng thời ghi nhận thu nhập khác. Trường hợp này sẽ được xử lý thuế như sau:

  • TNDN: Khoản còn nợ mà không phải trả nhà cung cấp được ghi nhận là thu nhập khác tại kỳ tính thuế Công ty có văn bản quyết định ghi nhận không phải trả để tính thuế TNDN.
  • GTGT: Trường hợp khoản nợ không phải có giá trị dưới 20 triệu đồng thì không phải điều chỉnh số thuế GTGT khấu trừ đã nộp ở khâu nhập khẩu. Trường hợp khoản nợ không phải trả có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên, Công ty thực hiện kê khai điều chỉnh giảm số thuế GTGT đã kê khai khấu trừ tương ứng số tiền mua hàng không phải trả nhà cung cấp theo quy định.

Xử lý thuế với trường hợp Doanh nghiệp chế xuất thuê nhà xưởng  

Theo Công văn số 2313/CT-TTHT ban hành bởi Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh ngày 17/07/2020, doanh thu cho Doanh nghiệp chế xuất (“DNCX”) thuê nhà xưởng để phục vụ cho hoạt động sản xuất và kinh doanh của DNCX sẽ chịu thuế suất GTGT 0%. Địa điểm nhà xưởng DNCX dùng để sản xuất kinh doanh đó phải được ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (“GCNĐKĐT”) của DNCX. Thuế suất GTGT 0% sẽ được áp dụng kể từ ngày đăng ký nhà xưởng đi thuê trên GCNĐKĐT. Doanh thu cho thuê nhà xưởng trước ngày đăng ký sẽ chịu thuế suất GTGT 10%.

Hoàn thuế GTGT cho máy móc thiết bị nhập khẩu phải tiêu hủy

Theo Công văn số 14945/CT-TTHT ban hành bởi Cục Thuế tỉnh Bình Dương ngày 01/07/2020, trường hợp công ty nhập khẩu một lô máy móc thiết bị để phục vụ sản xuất đồ gỗ gia dụng nhưng cơ quan hải quan kiểm tra lại không đạt tiêu chuẩn quy định và buộc phải tiêu hủy toàn bộ lô hàng hóa máy móc thiết bị. Việc tiêu hủy lô hàng này không thuộc các trường hợp bất khả kháng, hư hỏng do quá trình sinh hóa tự nhiên hay do hết hạn sử dụng, vì vậy phần thuế nhập khẩu và thuế GTGT nhập khẩu của lô hàng trên không được đưa vào chi phí được trừ theo quy định tại Thông tư 96/2015/TT-BTC. Đồng thời, Công ty không được hoàn thuế GTGT hàng nhập khẩu theo quy định tại Điều 18 Thông tư 219/2013/TT-BTC.

Thuế Thu nhập cá nhân (“Thuế TNCN”)

Chính sách thuế đối với khoản tài trợ nhận từ quỹ Tổ chức Thương mại Công bằng Thế giới

Công văn số 2774/TCT-CS ngày 08 tháng 07 năm 2020 của Tổng Cục thuế hướng dẫn trường hợp Công ty nhận được khoản tiền hỗ trợ từ Tổ chức thương mại công bằng thế giới (Fair Trade) do đáp ứng đủ điều kiện sản xuất sản phẩm dán nhãn Fair Trade (được cấp Giấy chứng nhận), công nhân của Công ty đủ điều kiện để được hưởng khoản hỗ trợ thì khi Công ty nhận khoản tiền hỗ trợ này được xác định là thu nhập khác khi tính thuế TNDN, người lao động của Công ty được hưởng các lợi ích từ các hoạt động sử dụng quỹ Fair Trade thuộc trường hợp có thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công.

Hóa đơn

Xử lý lỗi chính tả trên Hóa đơn điện tử  

Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh ban hành Công văn số 2321/CT-TTHT ngày 20/07/2020 hướng dẫn phát hành hóa đơn điện tử. Theo Công văn, Công ty cần phát hành hóa đơn khi tặng quà cho khách hàng và phải tính thuế GTGT như bán hàng thông thường. Mặt khác, về nguyên tắc khi viết số tiền bằng chữ trên hóa đơn điện tử phải ghi theo chuẩn Tiếng Việt để tránh hiểu lầm nội dung hóa đơn. Khi có những lỗi chính tả viết số tiền bằng chữ ví dụ “sáu mươi năm ngàn” thay vì “sáu mươi lăm ngàn” hoặc ghi rút gọn thành “sáu lăm ngàn” thay vì “sáu mươi lăm ngàn” mà những sai sót này không làm sai lệch nội dung hóa đơn thì những hóa đơn công ty đã nhận trước ngày Công văn này được chấp nhận là phù hợp.

Hóa đơn điện tử cho hàng hóa xuất khẩu

Ngày 26/06/2020, Cục thuế tỉnh Bình Dương ban hành Công văn số 14567/CT-TTHT, theo đó khi xuất khẩu hàng hóa, Công ty sử dụng hóa đơn thương mại theo quy định tại Thông tư 119/2014/TT-BTC. Hóa đơn thương mại không thuộc các loại hóa đơn điện tử theo quy định tại Khoản 5 Nghị định 119/2018/NĐ-CP. Từ ngày 01/01/2020, Công ty phải sử dụng hóa đơn GTGT điện tử hoặc hóa đơn bán hàng điện tử cho xuất khẩu hay ủy thác xuất khẩu.

Cập nhật về hải quan

 Tạm xuất tái nhập máy móc thiết bị theo hợp đồng thuê mượn

Theo Công văn số 4493/TCHQ-TNXK ngày 3/07/2020 của Tổng Cục hải quan, khi Công ty tạm xuất máy móc thiết bị cho đối tác nước ngoài theo hợp đồng thuê mượn để thi công công trình sau đó tái nhập, nếu trong quá trình cho thuê tài sản, tài sản cho thuê vẫn thuộc sở hữu của bên cho thuê, hàng hóa đủ điều kiện để đăng ký tờ khai theo loại hình tạm xuất tái nhập thì khi tạm xuất hàng hóa được miễn thuế xuất khẩu. Khi tái nhập trong thời hạn đã đăng ký, cơ quan hải quan có đủ cơ sở xác định hàng hóa tái nhập đúng là hàng hóa tạm xuất trước đây thì máy móc thiết bị đó được miễn thuế nhập khẩu.

Doanh nghiệp không phải nộp thuế GTGT khi tái nhập máy móc thiết bị đó.

Hướng dẫn về chứng từ chứng nhận xuất xứ theo Hiệp định EVFTA

Ngày 30/7/2020, Bộ Công thương ban hành Công văn số 0811/XNK-XXHH hướng dẫn kê khai chứng từ chứng minh chứng nhận xuất xứ trong EVFTA, theo đó với lô hàng có trị giá không quá 6.000 Euro, bất kỳ nhà xuất khẩu nào cũng được phép tự chứng nhận xuất xứ. Việc tự xác nhận sẽ do nhà xuất khẩu thực hiện trên hóa đơn, phiếu xuất kho hoặc bất kỳ chứng từ thương mại nào khác (phiếu gửi hàng, hóa đơn chiếu lệ, phiếu đóng gói.)

Tờ khai tự chứng nhận xuất xứ được cung cấp tại Phụ lục 7, Thông tư 11/2020/TT-BTC như sau:

“Người xuất khẩu hàng hóa được kê khai bằng chứng từ này (mã số tự chứng nhận xuất xứ…(1)) tuyên bố rằng, trừ trường hợp có chỉ định rõ ràng khác, các sản phẩm này có xuất xứ ưu đãi của…(2).

………………………………………………………………………………………. (3)

(Thời gian và địa điểm)

 ……………………………………………………………………………………….. (4)

(Chữ ký của nhà xuất khẩu, bên cạnh đó tên của người ký khai báo xuất xứ phải được thể hiện bằng chữ in rõ ràng)

Sau khi khai báo, nhà xuất khẩu khai và cập nhật tờ khai gốc và các giấy tờ liên quan đến lô hàng tại www.ecosys.gov.vn của Bộ Công thương.

Cập nhật văn bản hướng dẫn pháp luật lao động

 Hướng dẫn về chế độ thai sản áp dụng đối với lao động nước ngoài  

 Ngày 16/06/2020 Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, ban hành Công văn số 2161/LDTBXH-BHXH hướng dẫn về chế độ thai sản áp dụng cho lao động nam người nước ngoài tham gia bản hiểm bắt buộc tại Việt Nam. Theo đó, khi người lao động nam nước ngoài đang tham gia bảo hiểm xã hội có vợ sinh con mà người vợ không tham gia bảo hiểm xã hội ở Việt Nam thì người lao động nam được hưởng trợ cấp một lần với mức bằng hai lần mức lương cơ sở tại tháng sinh cho mỗi con theo quy định tại Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội.

Cập nhật văn bản quy phạm pháp luật  

 Nghị Quyết 116/2020/QH14 về giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm 2020

 Căn cứ theo Nghị quyết này, trường hợp doanh nghiệp có tổng doanh thu năm 2020 không quá 200 tỷ đồng sẽ được giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm 2020. Theo đó, doanh nghiệp tự xác định số thuế được giảm khi tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quý và quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2020.

  • Nghị Quyết 116 áp dụng cho những đối tượng sau :
  • Doanh nghiệp;
  • Tổ chức được thành lập theo Luật Hợp tác xã;
  • Đơn vị sự nghiệp;
  • Tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập.
  • Nghị quyết được ban hành ngày 19 tháng 06 năm 2020 và sẽ có hiệu lực thi hành sau 45 ngày kể từ ngày ký và áp dụng cho kỳ tính thuế năm 2020.