CONTACT INFO

BẢN TIN THUẾ CẬP NHẬT THÁNG 10/2020

Cập nhật Văn bản pháp luật

 Nghị định số 123/2020/NĐ-CP quy định về hóa đơn, chứng từ

 Chính Phủ đã chính thức ban hành Nghị định số 123/2020/NĐ-CP vào ngày 19 tháng 10 năm 2020 quy định về hóa đơn, chứng từ (“Nghị định 123”).

Một số quy định đáng lưu ý của Nghị định như sau:

  • Hóa đơn được điều chỉnh theo Nghị định này là hóa đơn điện tử và hóa đơn do cơ quan thuế đặt in;
  • Trường hợp hóa đơn điện tử đã lập có thời điểm ký số trên hóa đơn khác thời điểm lập hóa đơn thì thời điểm khai thuế là thời điểm lập hóa đơn;
  • Trên hóa đơn điện tử không nhất thiết phải có chữ ký điện tử của người mua;
  • Với hoạt động xuất khẩu hàng hóa, cung cấp dịch vụ ra nước ngoài: áp dụng hóa đơn GTGT với các tổ chức khai thuế theo phương pháp khấu trừ, áp dụng hóa đơn bán hàng với tổ chức khai thuế theo phương pháp trực tiếp;
  • Khi kiểm tra hàng hóa lưu thông trên thị trường, cơ quan nhà nước truy cập Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế để tra cứu thông tin về hóa đơn điện tử, không yêu cầu cung cấp hóa đơn giấy.  Trường hợp bất khả kháng do sự cố, thiên tai gây ảnh hưởng đến việc truy cập mạng Internet dẫn đến không tra cứu được dữ liệu hóa đơn thì cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền thực hiện tra cứu thông tin hóa đơn điện tử theo hình thức nhắn tin theo quy định tại Nghị định này.
  • Theo khoản 3 Điều 59 Nghị định 123, Chính phủ đã bãi bỏ khoản 2 Điều 35 của Nghị định số 119: “Việc tổ chức thực hiện hóa đơn điện tử, hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế theo quy định của Nghị định này thực hiện xong đối với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức khác, hộ, cá nhân kinh doanh chậm nhất là ngày 01 tháng 11 năm 2020”.  Việc bãi bỏ điều khoản này giúp làm rõ vấn đề mà nhiều doanh nghiệp phân vân, lo lắng trong thời gian qua về thời điểm bắt buộc áp dụng hóa đơn điện tử.
  • Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01/07/2022. Khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân đáp ứng điều kiện về hạ tầng công nghệ thông tin áp dụng quy định về hóa đơn, chứng từ điện tử của Nghị định này trước ngày 01 tháng 7 năm 2022. Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/052010, số 04/2014/NĐ-CP ngày 17/01/2014, Nghị định số 119/2018/NĐ-CP ngày 12/09/2018 tiếp tục có hiệu lực thi hành đến ngày 30/06/2022.
  • Trường hợp từ ngày Nghị định này được ban hành đến ngày 30/6/2022, trường hợp cơ quan thuế thông báo cơ sở kinh doanh chuyển đổi để áp dụng hóa đơn điện tử theo quy định tại Nghị định này hoặc Nghị định số 119/2018/NĐ-CP ngày 12 tháng 09 năm 2018, nếu cơ sở kinh doanh chưa đáp ứng điều kiện về hạ tầng công nghệ thông tin mà tiếp tục sử dụng hóa đơn theo các hình thức theo quy định hiện hành thì cơ sở kinh doanh thực hiện gửi dữ liệu hóa đơn đến cơ quan thuế theo Mẫu số 03 Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này cùng với việc nộp tờ khai thuế giá trị gia tăng.
  • Đối với cơ sở kinh doanh mới thành lập trong thời gian từ ngày Nghị định này được ban hành đến ngày 30/6/2022, trường hợp cơ quan thuế thông báo cơ sở kinh doanh thực hiện áp dụng hóa đơn điện tử theo quy định tại Nghị định này thì cơ sở kinh doanh thực hiện theo hướng dẫn của cơ quan thuế. Trường hợp chưa đáp ứng điều kiện về hạ tầng công nghệ thông tin mà tiếp tục sử dụng hóa đơn theo quy định hiện hành thì thực hiện như các cơ sở kinh doanh nêu tại điểm nêu trên.

 

Nghị định số 125/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn

 Ngày 19/10/2020 vừa qua, Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 125/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính về thuế và hóa đơn (“Nghị định 125”). Chúng tôi xin được cập nhật một số điểm mới của Nghị định 125 so với các quy định hiện hành (Nghị định số 129/2013/NĐ-CP, Nghị định số 109/2013/NĐ-CP, Nghị định số 49/2016/NĐ-CP) như sau:

  1. Về xử phạt vi phạm hành chính về thuế:

So với mức phạt tiền quy định tại Nghị định 129, các mức phạt tiền quy định tại Nghị định 125 có xu hướng tăng lên. Ví dụ:

Hành vi

 

Mức phạt tại Nghị định 125 Mức phạt tại Nghị định 129
Vi phạm thời hạn đăng ký thuế

 

Từ 1.000.000 đồng đến 10.000.000 triệu đồng

 

Từ 400.000 đồng đến 2.000.000 đồng
Vi phạm về thời hạn thông báo thay đổi thông tin đăng ký thuế Từ 500.000 đồng đến 7.000.000 đồng Từ 400.000 đồng đến 2.000.000 đồng

 

Hành vi khai sai, khai không đầy đủ các nội dung trong hồ sơ thuế không dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc không dẫn đến tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn

 

Từ 500.000 đồng đến 8.000.000 đồng Từ 400.000 đồng đến 3.000.000 đồng
Vi phạm về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế

 

Từ 2.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng Từ 400.000 đồng đến 5.000.000 đồng
Vi phạm quy định về cung cấp thông tin liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế

 

Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng Từ 400.000 đồng đến 2.000.000 đồng
Vi phạm quy định về chấp hành quyết định kiểm tra, thanh tra thuế, cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế

 

Từ 2.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng Từ 800.000 đồng đến 5.000.000 đồng

Nghị định 125 quy định bổ sung việc xử phạt vi phạm hành chính với hành vi vi phạm thông báo tạm ngừng hoạt động kinh doanh, thông báo tiếp tục kinh doanh trước thời hạn.

 Về xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn

 Nhiều mức phạt được giữ nguyên so với mức quy định tại Nghị định số 109/2013/NĐ-CP và Nghị định số 49/2016/NĐ-CP. Một số thay đổi/quy định đáng lưu ý như:

  • Với hành vi không lập hóa đơn tổng hợp theo quy định của pháp luật về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; mức phạt giảm từ 4.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng xuống từ 500.000 đồng đến 1.500.000 đồng.
  • Bổ sung quy định về phạt với hành vi không lập hóa đơn đối với các hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động, trừ hàng hóa luân chuyển nội bộ, tiêu dùng nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất: mức phạt từ 500.000 đồng đến 1.500.000 đồng.
  • Quy định chi tiết hơn về xử phạt với vi phạm quy định về hủy, tiêu hủy hóa đơn
  • Bổ sung một số mức phạt áp dụng với một số hành vi vi phạm liên quan đến hóa đơn điện tử như lập hóa đơn điện tử từ máy tính tiền không có kết nối, chuyển dữ liệu điện tử tới cơ quan thuế, lập hóa đơn điện tử khi chưa có thông báo chấp thuận của cơ quan thuế, vi phạm quy định về chuyển dữ liệu hóa đơn điện tử, vi phạm quy định về cung cấp dịch vụ hóa đơn.
  • Người nộp thuế áp dụng hóa đơn điện tử theo quy định của Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13 tháng 6 năm 2019 và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn Luật này trước ngày 01 tháng 7 năm 2022 nếu vi phạm quy định về hóa đơn điện tử thì bị xử phạt theo quy định tại Nghị định này.
  1. Các Quy định chung

 Nghị định 125 quy định rõ những trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn. Một số trường hợp đáng lưu ý gồm:

  • Người nộp thuế chậm thực hiện thủ tục thuế, hóa đơn bằng phương thức điện tử do sự cố kỹ thuật của hệ thống công nghệ thông tin được thông báo trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan thuế thuộc trường hợp thực hiện hành vi vi phạm do sự kiện bất khả kháng quy định tại khoản 4 Điều 11 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
  • Không xử phạt vi phạm hành chính về thuế, không tính tiền chậm nộp tiền thuế đối với người nộp thuế vi phạm hành chính về thuế do thực hiện theo văn bản hướng dẫn, quyết định xử lý của cơ quan thuế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến nội dung xác định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế (kể cả các văn bản hướng dẫn, quyết định xử lý được ban hành trước ngày Nghị định này có hiệu lực), trừ trường hợp thanh tra, kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế chưa phát hiện sai sót của người nộp thuế trong việc khai, xác định số tiền thuế phải nộp hoặc số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn nhưng sau đó hành vi vi phạm hành chính về thuế của người nộp thuế bị phát hiện.
  • Không xử phạt vi phạm hành chính về thuế đối với trường hợp khai sai, người nộp thuế đã khai bổ sung hồ sơ khai thuế và đã tự giác nộp đủ số tiền thuế phải nộp trước thời điểm cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế hoặc trước thời điểm cơ quan thuế phát hiện không qua thanh tra, kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế hoặc trước khi cơ quan có thẩm quyền khác phát hiện.

Nghị định quy định trong thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế và hóa đơn mà tổ chức, cá nhân cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh cản trở việc xử phạt.

Nghị định 125 chính thức có hiệu lực vào ngày 05/12/2020. Nghị định 125 bãi bỏ một phần hay toàn bộ các quy định tại Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 năm 2013, Nghị định số 109/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm 2013, Nghị định số 49/2016/NĐ-CP ngày 27 tháng 5 năm 2016, Thông tư số 166/2013/TT-BTC ngày 15 tháng 11 năm 2013, Thông tư số  10/2014/TT-BTC ngày 17 tháng 01 năm 2014 và Thông tư số 176/2016/TT-BTC ngày 31 tháng 10 năm 2016.

 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế

 Ngày 19 tháng 10 năm 2020, Chính Phủ đã ban hành Nghị định 126/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế (“Nghị định 126”).

Tiếp theo bản tin cập nhật về Luật Quản lý thuế đã gửi trước đây, chúng tôi xin tiếp tục cập nhật một số điểm chính sau mà Nghị định 126 đã làm rõ hoặc quy định bổ sung:

  • Về địa điểm kê khai thuế đối với người nộp thuế có nhiều hoạt động, kinh doanh trên nhiều địa bàn cấp tỉnh:
  • Khai thuế thu nhập doanh nghiệp (“TNDN”) tại nơi có đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh có thu nhập được hưởng ưu đãi thuế TNDN.
  • Đối với người nộp thuế có hoạt động, kinh doanh trên nhiều địa bàn cấp tỉnh khác nơi người nộp thuế có trụ sở chính thực hiện hạch toán tập trung tại trụ sở chính (trừ một số trường hợp), khai thuế TNDN tại cơ quan thuế quản lý trụ sở chính. Đồng thời, người nộp thuế phải nộp Bảng phân bổ số thuế phải nộp (nếu có) theo từng địa bàn cấp tỉnh nơi được hưởng nguồn thu ngân sách nhà nước (bao gồm cả đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh) cho cơ quan thuế quản lý trụ sở chính, trừ một số trường hợp được quy định trong Nghị định.
  • Khai thuế giá trị gia tăng (“GTGT”) tại nơi có nhà máy sản xuất điện.
  • Trường hợp người nộp thuế trực tiếp nhập khẩu hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt sau đó bán trong nước thì người nộp thuế phải khai thuế tiêu thụ đặc biệt với cơ quan thuế quản lý trực tiếp nơi người nộp thuế có trụ sở chính.
  • Khai/nộp thuế:
  • Về thuế TNDN tạm nộp trong năm, Khoản 6, Điều 8, Nghị định 126 có quy định mới: “Tổng số thuế TNDN đã tạm nộp của 03 quý đầu năm tính thuế không được thấp hơn 75% số thuế TNDN phải nộp theo quyết toán năm. Trường hợp người nộp thuế nộp thiếu so với số thuế phải tạm nộp 03 quý đầu năm thì phải nộp tiền chậm nộp tính trên số thuế nộp thiếu kể từ ngày tiếp sau ngày cuối cùng của thời hạn tạm nộp thuế TNDN quý 03 đến ngày nộp số thuế còn thiếu vào ngân sách nhà nước.”

Nghị định 126 có hiệu lực từ ngày 5/12/2020, như vậy, có thể hiểu là nguyên tắc trên chưa áp dụng cho năm tài chính 2020. Theo trao đổi, Tổng Cục thuế cũng đồng ý với cách hiểu này. Tuy nhiên, Quý khách hàng cần lưu ý, khả năng cao nguyên tắc tạm nộp thuế TNDN cho 4 quý không thấp hơn 80% tổng nghĩa vụ thuế theo quyết toán vẫn có thể phải tuân thủ trong năm 2020 kể cả khi Nghị định 126 bắt đầu có hiệu lực. Do nội dung này ảnh hưởng tới nhiều doanh nghiệp, Tổng Cục thuế có thể sẽ ban hành hướng dẫn cụ thể trong thời gian tới.

  • Người nộp thuế chỉ được khai bổ sung tăng số thuế GTGT đề nghị hoàn khi chưa nộp hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế tiếp theo và chưa nộp hồ sơ đề nghị hoàn thuế.
  • Việc xác định kê khai thuế GTGT theo tháng hay theo quý là căn cứ theo doanh thu hàng năm, không theo chu kỳ ổn định 3 năm như trước đây.
  • Trong thời gian tạm ngừng hoạt động kinh doanh, người nộp thuế không phải nộp hồ sơ khai thuế, trừ trường hợp người nộp thuế tạm ngừng hoạt động, kinh doanh không trọn tháng, quý, năm dương lịch hoặc năm tài chính thì vẫn phải nộp hồ sơ khai thuế tháng, quý; hồ sơ quyết toán năm.
  • Ấn định thuế:
  • Nghị định quy định rõ hơn về trường hợp ấn định thuế do không chấp hành quyết định thanh kiểm tra thuế/hải quan như sau:
  • Không chấp hành quyết định kiểm tra thuế trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày ký quyết định, trừ trường hợp được hoãn thời gian kiểm tra theo quy định;
  • Không chấp hành quyết định thanh tra thuế trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ký quyết định, trừ trường hợp được hoãn thời gian thanh tra theo quy định.
  • Không chấp hành quyết định kiểm tra thuế, quyết định kiểm tra sau thông quan trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định, không chấp hành quyết định thanh tra thuế trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày công bố quyết định và cơ quan hải quan có đủ căn cứ ấn định thuế, trừ trường hợp được gia hạn thời hạn kiểm tra thuế, kiểm tra sau thông quan, thanh tra thuế.
  • Nghị định cũng có quy định trường hợp ấn định thuế đối với nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để gia công, sản xuất xuất khẩu có chênh lệch dương (nhiều hơn) so với số liệu đã báo cáo cơ quan hải quan (thay vì chỉ ấn định thuế khi có chênh lệch âm (ít hơn) so với số liệu đã báo cáo cơ quan hải quan như hiện nay).
  • Ấn định thuế được căn cứ trên cơ sở dữ liệu của cơ quan quản lý thuế và cơ sở dữ liệu thương mại; tài liệu và kết quả kiểm tra, thanh tra còn hiệu lực; kết quả xác minh; số tiền thuế phải nộp bình quân tối thiểu của 03 cơ sở kinh doanh cùng mặt hàng, ngành, nghề, quy mô tại địa phương (thay vì quy định dựa trên số thuế phải nộp bình quân của một số cơ sở kinh doanh cùng ngành nghề, cùng mặt hàng tại địa phương như hiện nay); trường hợp tại địa phương, cơ sở kinh doanh không có hoặc có nhưng không đủ thông tin về mặt hàng, ngành, nghề, quy mô cơ sở kinh doanh thì lấy thông tin của cơ sở kinh doanh tại địa phương khác để thực hiện ấn định theo từng yếu tố hoặc thực hiện ấn định doanh thu tính thuế.
  • Trách nhiệm của Ngân hàng thương mại: Ngân hàng thương mại có trách nhiệm cung cấp các thông tin về tài khoản thanh toán của người nộp thuế mở tại ngân hàng cho cơ quan quản lý thuế như sau:
  • Theo đề nghị của cơ quan quản lý thuế, ngân hàng thương mại cung cấp thông tin tài khoản thanh toán của từng người nộp thuế bao gồm: tên chủ tài khoản, số hiệu tài khoản theo Mã số thuế đã được cơ quan quản lý thuế cấp, ngày mở tài khoản, ngày đóng tài khoản.
  • Việc cung cấp thông tin về tài khoản theo quy định nêu trên được thực hiện lần đầu trong thời gian 90 ngày kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành (05/12/2020). Việc cập nhật các thông tin về tài khoản được thực hiện hàng tháng trong 10 ngày của tháng kế tiếp. Phương thức cung cấp thông tin được thực hiện dưới hình thức điện tử.
  • Đối với kinh doanh thương mại điện tử:

Việc khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp của nhà cung cấp ở nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số với tổ chức, cá nhân ở Việt Nam (sau đây gọi là nhà cung cấp ở nước ngoài), Nghị định 126 hướng dẫn chi tiết như sau:

  • Nhà cung cấp ở nước ngoài chưa thực hiện đăng ký, kê khai, nộp thuế thì ngân hàng thương mại, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán thực hiện khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật thuế đối với từng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà người mua là cá nhân ở Việt Nam thanh toán cho nhà cung cấp ở nước ngoài liên quan đến hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số.
  • Tổng Cục thuế phối hợp với cơ quan có liên quan xác định, công bố tên, địa chỉ website của nhà cung cấp ở nước ngoài chưa thực hiện đáng ký, kê khai, nộp thuế mà người mua hàng hóa, dịch vụ có thực hiện giao dịch. Trên cơ sở đó, Tổng Cục thuế thông báo tên, địa chỉ website của nhà cung cấp ở nước ngoài cho ngân hàng thương mại, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán để các đơn vị này xác định tài khoản giao dịch của nhà cung cấp ở nước ngoài và thực hiện khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế đối với các giao dịch của người mua là cá nhân ở Việt Nam thanh toán cho tài khoản giao dịch của nhà cung cấp ở nước ngoài.
  • Trường hợp cá nhân có mua hàng hóa, dịch vụ của nhà cung cấp nước ngoài có thanh toán bằng thẻ hoặc các hình thức khác mà ngân hàng thương mại, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán không thể thực hiện khấu trừ, nộp thay thì ngân hàng thương mại, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán có trách nhiệm theo dõi số tiền chuyển cho các nhà cung cấp ở nước ngoài và định kỳ hàng tháng gửi về Tổng cục Thuế theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành.
  • Thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế (“APA”)
  • Nghị định có một điều quy định chi tiết về việc áp dụng cơ chế thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế (“APA”) đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết gồm các vấn đề như: mẫu đơn đề nghị áp dụng APA chính thức, mẫu đơn đề nghị tiến hành thủ tục thỏa thuận song phương, mẫu đơn đề nghị tham vấn, nội dung Bản dự thảo APA cuối cùng, việc gia hạn, sửa đổi, hủy bỏ, thu hồi APA.  Đáng lưu ý là về thời điểm có hiệu lực của APA, Nghi định 126 chỉ quy định chung “Thời điểm có hiệu lực của APA được thực hiện theo quy định tại khoản 16 Điều 3 Luật quản lý thuế” thay vì “Thời điểm bắt đầu có hiệu lực của APA được tính từ kỳ tính thuế TNDN liền sau thời điểm APA được ký kết.” như trong bản dự thảo trước đây.

Theo Khoản 16, Điều 3 Luật quản lý thuế: “Thoả thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế là thỏa thuận bằng văn bản giữa cơ quan thuế với người nộp thuế hoặc giữa cơ quan thuế với người nộp thuế và cơ quan thuế nước ngoài, vùng lãnh thổ mà Việt Nam đã ký hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với thuế thu nhập cho một thời hạn nhất định, trong đó xác định cụ thể các căn cứ tính thuế, phương pháp xác định giá tính thuế hoặc giá tính thuế theo giá thị trường. Thoả thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế được xác lập trước khi người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế.”

 Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Vào ngày 19/10/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định 128/2020/NĐ-CP (“Nghị định 128”) quy định xử phạt vi phạm hành chính (“VPHC”) trong lĩnh vực hải quan. Nghị định này bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 10/12/2020 và thay thế các Nghị định số 127/2013/NĐ-CP (“Nghị định 127”) và Nghị định số 45/2016/NĐ-CP (“Nghị định 45”) sửa đổi bổ sung một số điều Nghị định số 127. Một số điểm chính có liên quan mà Công ty cần lưu ý như sau:

  • Khoản 1, Điều 5, Nghị định 128 quy định: “Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan, tổ chức, cá nhân bị áp dụng một trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền.” Nghị định 128 không định nghĩa cụ thể về “mỗi hành vi vi phạm”. Nhưng căn cứ theo nội dung tờ trình của Bộ Tài chính về dự thảo Nghị định trong đó đề cập đến việc sửa đổi để thống nhất việc xử phạt đối với các trường hợp vi phạm hành chính nhiều lần theo quy định tại Điều 3, Luật xử lý vi phạm hành chính 2012: “Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm”, có thể hiểu rằng, trường hợp người khai hải quan vi phạm lặp đi lặp lại hành vi nhiều lần, người khai hải quan có thể bị xử phạt theo từng lần vi phạm.
  • Về phần quy định chung, Nghị định mới đã bỏ trường hợp “vi phạm lần đầu” trong phạm vi các tình tiết giảm nhẹ. Ngoài ra, Điều 6, Nghị định 128 có sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định tại Điều 5 Nghị định 127 (sửa đổi bởi Nghị định 45) về các trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính về hải quan ví dụ như:
  • Bãi bỏ trường hợp khai đúng tên hàng hóa thực xuất khẩu, thực nhập khẩu nhưng khai sai mã số, thuế suất mức thuế lần đầu.
  • Bổ sung trường hợp người khai hải quan thực hiện theo văn bản hướng dẫn, quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến nội dung xác định nghĩa vụ thuế.
  • Bên cạnh đó, nhóm hành vi vi phạm về thời hạn làm thủ tục hải quan được sửa đổi, bổ sung, cụ thể như sau:
  • Bổ sung hành vi vi phạm:
    • Không thông báo bổ sung, thông báo bổ sung không đúng thời hạn quy định thông tin khi có sự thay đổi cơ sở gia công, sản xuất hàng xuất khẩu (Điểm đ Khoản 3 Điều 7, Nghị định 128). Quy định không đưa ra hướng dẫn về hành vi không thông báo cơ sở gia công, sản xuất hàng xuất khẩu đúng thời hạn, tuy nhiên người khai hải quan vẫn nên lưu ý để chấp hành theo quy định;
    • Hành vi không thông báo hợp đồng gia công cho cơ quan hải quan theo quy định cũng không được đề cập trong Nghị định này, tuy nhiên, người khai hải quan vẫn nên lưu ý để chấp hành theo quy định;
    • Thông báo không đúng thời hạn quy định về định mức thưc tế của lượng sản phẩm đã sản xuất (Điểm h Khoản 3 Điều 7, Nghị định 128);
    • Không nộp báo cáo quyết toán, báo cáo tình hình sử dụng hàng hóa miễn thuế đúng thời hạn quy định (Điểm b Khoản 3 Điều 7, Nghị định 128);
    • Khai báo và làm thủ tục sau khi chuyển tiêu thụ nội địa hoặc thay đổi mục đích sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế, hoàn thuế, không thu thuế, hàng áp dụng thuế suất theo hạn ngạch thuế quan nhưng trước thời điểm quyết định kiểm tra, thanh tra (Điểm c Khoản 4 Điều 7, Nghị định 128).
  • Sửa đổi định danh, điều chỉnh tăng mức phạt:
    • Bổ sung hành vi: “Khai bổ sung về trị giá hải quan quá thời hạn quy định đối với …. hàng hóa có khoản thực thanh toán, hàng hóa có các khoản điều chỉnh cộng vào trị giá hải quan chưa xác định được tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan” (Điểm d Khoản 1 Điều 7, Nghị định 128);
    • Tăng mức phạt đối với hành vi: “Khai báo và làm thủ tục sau khi chuyển tiêu thụ nội địa hoặc thay đổi mục đích sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế, hoàn thuế, không thu thuế, hàng áp dụng thuế suất theo hạn ngạch thuế quan nhưng trước thời điểm quyết định kiểm tra, thanh tra” từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng lên mức phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng (Điểm c, Khoản 4, Điều 7, Nghị định 128).
  • Nhóm hành vi vi phạm quy định về khai hải quan được bổ sung trường hợp:
    • “Không khai trên tờ khai hải quan mối quan hệ đặc biệt giữa người mua và người bán theo quy định của pháp luật hải quan mà không ảnh hưởng đến trị giá hải quan” với mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng (giảm xuống từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng nếu người khai hải quan tự phát hiện và khai bổ sung quá thời hạn quy định (Khoản 1 và Khoản 6, Điều 8, Nghị định 128);
    • Trường hợp khai sai so với thực tế về lượng (tang vật có trị giá trên 10.000.000 đồng), tên hàng, chủng loại, chất lượng, trị giá hải quan, xuất xứ, mã số hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế nhưng không làm ảnh hưởng đến số thuế phải nộp thì sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng (Khoản 1, Điều 8, Nghị định 128).
  • Nhóm hành vi vi phạm quy định về khai thuế được bổ sung các trường hợp:
  • Lập báo cáo quyết toán về lượng nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu đã sử dụng để sản xuất không đúng với thực tế sử dụng để sản xuất sản phẩm gia công, sản phẩm xuất khẩu (Điểm e, Khoản 1, Điều 9, Nghị định 128);
  • Khai báo hàng hóa nhập khẩu theo loại hình gia công, sản xuất xuất khẩu nhưng không có cơ sở sản xuất hàng gia công, cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu; hoặc không có máy móc, thiết bị thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tại cơ sở sản xuất phù hợp với nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để gia công, sản xuất hàng xuất khẩu (Điểm g, Khoản 1, Điều 9, Nghị định 128). Trước đây hành vi khai báo hàng hóa nhập khẩu theo loại hình gia công, sản xuất xuất khẩu nhưng không có cơ sở sản xuất hàng gia công, cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu sẽ chỉ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng theo Nghị định 45. Tuy nhiên, theo Nghị định 128 mới, hành vi này sẽ bi coi là vi phạm quy định về khai thuế và áp dụng mức phạt theo tỷ lệ số thuế thiếu phải nộp (10% hoặc 20%);
  • Người nộp thuế tự phát hiện và khai bổ sung hồ sơ khai thuế sau thời điểm cơ quan hải quan có kết luận kiểm tra sau thông quan, thanh tra (Điểm d, Khoản 3, Điều 9, Nghị định 128);
  • Không khai bổ sung về trị giá hải quan theo quy định mà bị phát hiện khi kiểm tra, thanh tra đối với trường hợp hàng hóa chưa có giá chính thức tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan, hàng hóa có khoản thực thanh toán, hàng hóa có các khoản điều chỉnh cộng vào trị giá hải quan chưa xác định được tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan (Điểm c Khoản 3 Điều 9, Nghị định 128).
  • Nhóm hành vi vi phạm quy định về kiểm tra hải quan, thanh tra được bổ sung hành vi vi phạm:
    • Lập báo cáo quyết toán không đúng so với sổ, chứng từ kế toán, tờ khai hải quan mà người nộp thuế tự phát hiện, sửa đổi, bổ sung báo cáo quyết toán ngoài thời hạn quy định nhưng không thuộc trường hợp quy định tại điểm e khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 9 Nghị định này (điểm b, khoản 1, Điều 11, Nghị định 128);
    • Đối với trường hợp xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thực tế không đúng với khai hải quan về lượng, tên hàng, chủng loại mà không có chứng từ để khai bổ sung theo quy định thì theo khoản 8, Điều 11 sẽ được coi là hành vi vi phạm về kiểm tra hải quan, thanh tra và bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến đến 80.000.000 đồng tùy thuộc vào trị giá tang vật.
  • Nhóm hành vi vi phạm quy định về giám sát hải quan được sửa đổi, bổ sung như sau:
  • Bổ sung hành vi: Thực hiện tiêu hủy phế liệu, phế phẩm từ hoạt động gia công, sản xuất hàng xuất khẩu, hoạt động của DNCX mà không thông báo với cơ quan hải quan (Điểm b Khoản 1 Điều 12);
  • Bổ sung quy định để xử phạt cho trường hợp “hàng hóa không có kết quả kiểm tra chuyên ngành” (Khoản 1, Điều 18) như trường hợp hàng hóa không đạt chất lượng nhập khẩu nhằm ngăn chặn các trường hợp tổ chức, cá nhân đã đăng ký kiểm tra chuyên ngành, sau đó được mang hàng về bảo quản chờ kết quả kiểm tra nhưng không mang đi kiểm tra và đã tiêu thụ hàng hóa đang chịu sư giám sát hải quan trong thời gian này;
  • Điều chỉnh giảm mức tiền phạt đối với hành vi “Đưa nguyên liệu, vật tư, máy móc, thiết bị đến cơ sở khác gia công lại hoặc đến cơ sở, nơi lưu giữ khác với địa điểm ban đầu đã thông báo với cơ quan hải quan để gia công, sản xuất hàng hóa xuất khẩu mà không thông báo cho cơ quan hải quan” từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 giảm xuống từ 5.000.000 đến 10.000.000 (điểm c, khoản 1, Điều 12, Nghị định 128).
  • Bổ sung vào hành vi trốn thuế đối với trường hợp “Không kê khai về nguyên liệu, vật tư mua trong nước có thuế xuất khẩu cấu thành sản phẩm gia công xuất khẩu; khai sai phần trị giá nguyên liệu, vật tư, linh kiện xuất khẩu cấu thành sản phẩm gia công làm tăng số tiền thuế được miễn đối với sản phẩm gia công khi nhập khẩu trở lại Việt Nam” (Điều 14, Nghị định 128).Theo đó, người nộp thuế sẽ bị phạt tử 01 lần cho tới 03 lần số tiền thuế trốn, phụ thuộc vào có/không có tình tiết tăng nặng.

Cập nhật Công văn

 Thuế Thu nhập doanh nghiệp (“Thuế TNDN”)

 Chính sách thuế đối với sản phẩm lỗi hỏng

Công văn số 6550/CT-TTHT của Cục Thuế tỉnh Hải Dương ngày 13 tháng 10 năm 2020 hướng dẫn trường hợp Công ty bán hàng bị phạt tiền do hàng lỗi hỏng (không phát sinh trả lại hàng hoá) thì khoản chi phí giá vốn tương ứng với doanh thu tính thuế TNDN được tính vào chi phí được trừ khi xác định thuế TNDN.

 Chi phí được trừ đối với giá trị nguyên vật liệu vượt định mức

 Ngày 14 tháng 07 năm 2020, Cục Thuế tỉnh Bình Dương ban hành Công văn số 15857/CT-TTHT, theo đó, số thuế nhập khẩu theo quyết định ấn định của cơ quan hải quan mà Công ty đã nộp được xác định là khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN nếu đáp ứng đủ điều kiện tại Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC.

Trường hợp qua kiểm tra sau thông quan tại Công ty và theo Quyết định ấn định số thuế nhập khẩu, thuế GTGT nhập khẩu do Công ty có số nguyên phụ liệu tồn kho phát sinh chênh lệch giữa kiểm tra chứng từ xuất nhập khẩu, hồ sơ thanh khoản với sổ sách kế toán và kiểm tra thực tế hàng tồn kho thì giá trị nguyên vật liệu vượt định mức không được hạch toán vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN theo quy định.

Chi phí được trừ đối với phí bản quyền theo hợp đồng chuyển giao công nghệ

Cục Thuế tỉnh Long An đã ban hành Công văn số 1911/CT-TTHT ngày 10 tháng 07 năm 2020 hướng dẫn trường hợp Công ty ký hợp đồng với Công ty mẹ tại nước ngoài về sử dụng công nghệ sản xuất của Công ty mẹ để sản xuất các sản phẩm và phải trả 1% phí bản quyền trên doanh thu thuần hàng tháng. Căn cứ theo quy định của Luật chuyển giao công nghệ có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2018, Công ty phải ký lại hợp đồng và phải đăng ký chuyển giao công nghệ này với Sở Khoa học và Công Nghệ trong vòng 3 tháng kể từ ngày ký hợp đồng nhưng do việc ký lại hợp đồng bản quyền phải qua nhiều khâu nên dự kiến đến tháng 7/2020 mới ký lại hợp đồng và đăng ký xong, thì phí bản quyền 1% Công ty trả cho Công ty mẹ được tính vào chi phí được trừ theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC. Công ty phải khấu trừ, kê khai và nộp thuế nhà thầu theo quy định tại Thông tư số 103/2014/TT-BTC.

Chính sách thuế TNDN đối với khoản thuế TNCN phát sinh từ tiền lương, tiền công của Người lao động nước ngoài do doanh nghiệp Việt Nam chi trả và do công ty mẹ tại nước ngoài chi trả

Công văn số 7955/CT-TTHT của Cục Thuế tỉnh Đồng Nai ngày 24 tháng 08 năm 2020 hướng dẫn về chính sách thuế TNDN đối với khoản thuế TNCN của Người lao động nước ngoài như sau:

  • Đối với khoản thuế TNCN phát sinh từ tiền công, tiền lương do Công ty chi trả:

 Trường hợp Công ty thực hiện thanh toán tiền lương, tiền công (đã bao gồm thuế TNCN) cho Người lao động nước ngoài theo hợp đồng lao động đã ký giữa hai bên, nếu Công ty nộp thay Người nước ngoài số thuế TNCN phát sinh thì khoản thuế TNCN này không thuộc khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN của Công ty theo quy định tại Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC, được sửa đổi, bổ sung tại Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC.

  • Trường hợp Công ty thực hiện thanh toán tiền lương, tiền công không bao gồm thuế TNCN cho Người lao động nước ngoài theo hợp đồng lao động đã ký giữa hai bên, nếu Công ty nộp thay Người nước ngoài số thuế TNCN phát sinh thì khoản thuế TNCN này được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN của Công ty theo quy định tại điểm 2.37, Khoản 2, Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC, được sửa đổi, bổ sung tại Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC.
  • Đối với khoản thuế TNCN phát sinh từ tiền công, tiền lương do Công ty mẹ ở nước ngoài chi trả:

Nếu Công ty nộp thay Người nước ngoài số thuế TNCN phát sinh từ tiền công, tiền lương do Công ty nước ngoài chi trả thì không thuộc khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN của Công ty theo quy định tại Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC, được sửa đổi, bổ sung tại Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC.

 Chi phí được trừ đối với khoản chi hỗ trợ người lao động do tác động của dịch COVID-19

 Ngày 28 tháng 09 năm 2020, Tổng Cục thuế đã có Công văn số 4073/TCT-CS gửi Bộ Lao động và thương binh xã hội để lấy ý kiến về trường hợp doanh nghiệp do tác động của dịch COVID-19 làm ảnh hưởng đến nguyên vật liệu nhập về không đồng bộ dẫn đến không bố trí đủ việc làm cho người lao động. Khi đó, để giữ chân người lao động trong thời gian tạm hoãn hợp đồng lao động, Công ty chi hỗ trợ cho người lao động là 2.000.000 đồng/tháng/người. Theo quan điểm của Tổng Cục thuế:

  • Nếu khoản chi nêu trên là khoản chi có tính chất phúc lợi thì được trừ khi tính thuế TNDN nếu đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC (tổng số chi có tính chất phúc lợi không quá 01 tháng lương bình quân thực tế thực hiện trong năm tính thuế của doanh nghiệp).
  • Nếu khoản chi nêu trên là chi tiền lương ngừng việc thì được tính toàn bộ vào chi phí tiền lương, tiền công và được trừ khi tính thu nhập chịu thuế TNDN nếu đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 9 Nghị định số 218/2013/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 91/2014/NĐ-CP và Nghị định số 12/2015/NĐ-CP.

Do đó, Tổng Cục thuế đang lấy ý kiến của Bộ lao động thương binh và xã hội về việc đây là khoản chi có tính chất phúc lợi hay chi tiền lương ngừng việc để có cơ sở áp dụng chính sách thuế TNDN phù hợp.

Thuế TNDN đối với chi phí tiền lương và chi phí phúc lợi khác do ảnh hưởng của dịch COVID-19 

 Theo Công văn số 89924/CT-TTHT do Cục thuế TP Thành phố Hà Nội ban hành ngày 09 tháng 10 năm 2020, khoản tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công cho người lao động nghỉ trong thời gian giãn cách xã hội, thời gian chờ việc do ảnh hưởng của dịch COVID và các khoản chi khác có tính chất phúc lợi trực tiếp cho người lao động thì Công ty được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN đối với các khoản chi đáp ứng quy định tại Điều 4, Thông tư số 96/2015/TT-BTC, đã được sửa đổi, bổ sung tại Điều 3 Thông tư số 25/2018/TT-BTC.

Thuế TNDN và thuế TNCN đối với chi phí cho chuyên gia người nước ngoài

 Cục thuế tỉnh Đồng Nai ban hành Công văn số 10185/CT-TTHT ngày 16 tháng 10 năm 2020, trong đó nêu rõ trường hợp Công ty có chi trả tiền thuế TNCN đối với phần thu nhập phát sinh tại nước ngoài của chuyên gia nước ngoài và chi phí thuê đơn vị tư vấn thuế thực hiện khai thuế, hỗ trợ thuế cho chuyên gia nước ngoài thì các chi phí này nếu được quy định cụ thể điều kiện được hưởng và mức được hưởng tại một trong các hồ sơ sau: Hợp đồng lao động; Thỏa ước lao động tập thể; Quy chế tài chính của Công ty, Tổng công ty, Tập đoàn; Quy chế thưởng do Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc quy định theo quy chế tài chính của Công ty, Tổng công ty … được xác định là chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN theo đúng quy định tại điểm b Khoản 2.6 Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC.

Các chi phí nêu trên được xác định là tiền lương, tiền công, tiền thưởng của người lao động nên phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của chuyên gia nước ngoài, khai thuế (mẫu 05/KK-TNCN), nộp thuế theo quy định. [nội dung PIT]

 Hướng dẫn về tài sản cố định (“TSCĐ”) tạm dừng hoạt động do ảnh hưởng của dịch COVID-19  

 Liên quan đến vấn đề này, trong các bản tin gần đây, chúng tôi đã cập nhật một số hướng dẫn của các Cục thuế địa phương như sau:

  • Theo Công văn 2204/CT-TTHT ngày 29 tháng 4 năm 2020 của Cục thuế Hải Dương, trường hợp Công ty có một dây chuyền sản xuất phải tạm thời dừng do ảnh hưởng của dịch Covid – 19 thì khoản chi phí khấu hao tài sản cố định trong thời gian tạm dừng không được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN;
  • Theo Công văn số 1930/CT-TTHT của Cục thuế Thành phố Hải Phòng ban hành ngày 02 tháng 07 năm 2020, trường hợp do ảnh hưởng của dịch COVID-19, số lượng đơn hàng của Công ty giảm mạnh, Công ty buộc phải dừng hoạt động của một dây chuyền sản xuất của một sản phẩm dự kiến trong vòng 3 tháng thì Công ty không được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN đối với chi phí khấu hao của TSCĐ trong thời giang ngừng hoạt động này;
  • Theo hướng dẫn tại Công văn số 2717/CT-TTHT của Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh ngày 11 tháng 09 năm 2020, trong thời gian Công ty tạm dừng sản xuất do không có đơn hàng thì không thuộc trường hợp tạm dừng theo mùa vụ (9 tháng) hay tạm dừng để sửa chữa, bảo dưỡng, di dời (12 tháng), do vậy chi phí khấu hao không được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.

Như vậy các hướng dẫn trên đây đều không cho phép các chi phí khấu hao trong thời gian TSCĐ tạm dừng hoạt động do ảnh hưởng của dịch COVID-19 là chi phí được trừ. Tuy nhiên, theo Công văn số 12452/BTC-TCT của Bộ Tài Chính ban hành ngày 09 tháng 10 năm 2020, do ảnh hưởng của dịch COVID-19 dẫn tới nhu cầu thị trường sụt giảm, doanh nghiệp gặp khó khăn phải tạm dừng hoạt động một số TSCĐ dưới 9 tháng trong kỳ tính thuế TNDN năm 2020, sau đó TSCĐ này được tiếp tục đưa vào phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh trở lại thì thuộc trường hợp tạm thời dừng do sản xuất theo mùa vụ theo Khoản 2.2, Điều 4, Thông tư số 96/2015/TT-BTC.

Xác định nguyên giá tài sản cố định (“TSCĐ”) do đầu tư xây dựng cơ bản

Theo hướng dẫn tại Công văn số 3321/CT-TTHT của Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh ngày 26 tháng 10 năm 2020,

Công ty có nhà xưởng do xây dựng cơ bản hoàn thành đưa vào sử dụng từ tháng 01 năm 2020 nhưng do trục trặc hồ sơ nên tháng 04 năm 2020 mới nghiệm thu thì Công ty hạch toán nguyên giá theo giá tạm tính tại thời điểm bàn giao đưa vào sử dụng từ tháng 01 năm 2020 (thuộc TSCĐ của dự án ban đầu) và điều chỉnh sau khi quyết toán công trình hoàn thành.

Thuế Giá trị gia tăng (“Thuế GTGT”)

 Thuế GTGT đối với hoạt động bán hàng mà hàng hóa được giao trực tiếp cho người mua tại Việt Nam bởi nhà cung cấp ở nước ngoài của người bán

 Liên quan đến vấn đề này, gần đây Cục thuế Thành phố Hà Nội có ban hành các công văn hướng dẫn như sau:

 Tại Công văn số 81763/CT-TTHT ngày 08 tháng 09 năm 2020:

  • Trường hợp Công ty mua hàng từ nhà cung cấp nước ngoài nhưng không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam mà bán lại cho khách hàng là doanh nghiệp hoạt động, kinh doanh tại Việt Nam (Người mua) với điều kiện giao hàng tại cảng/sân bay Việt Nam (điều khoản giao hàng CIF Incoterm 2010) và Người mua là người làm thủ tục nhập khẩu và nộp các khoản thuế liên quan (nếu có) ở khâu nhập khẩu thì hoạt động bán hàng hóa này không đủ điều kiện áp dụng thuế suất 0%. Công ty phải lập hóa đơn, tính và kê khai thuế GTGT đầu ra khi bán hàng hóa cho khách hàng tại Việt Nam theo quy định.
  • Trường hợp người nộp thuế có chứng từ nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu mang tên người nộp thuế và đáp ứng điều kiện về khấu trừ thuế GTGT thì người nộp thuế được kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo quy định.

 Tại Công văn số 91495/CT-TTHT ngày 16 tháng 10 năm 2020:

  • Trường hợp khách hàng của Công ty đáp ứng điều kiện là doanh nghiệp chế xuất thì hàng hóa được mua bán giữa nước ngoài với các khu phi thuế quan thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT theo Khoản 20, Điều 4, Thông tư số 219/2013/TT-BTC.
  • Trường hợp Công ty mua hàng từ nhà cung cấp nước ngoài nhưng không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam mà bán lại cho khách hàng là doanh nghiệp nội địa Việt Nam (Người mua) với điều kiện giao hàng tại cảng/sân bay Việt Nam (điều khoản giao hàng CIF Incoterm 2010) và Người mua là người làm thủ tục nhập khẩu và nộp các khoản thuế liên quan (nếu có) ở khâu nhập khẩu thì hoạt động bán hàng này không đủ điều kiện áp dụng thuế suất 0%. Công ty phải lập hóa đơn, tính và kê khai thuế GTGT đầu ra khi bán hàng hóa cho khách hàng Việt Nam theo quy định.
  • Trường hợp người nộp thuế có chứng từ nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu mang tên người nộp thuế và đáp ứng điều kiện về khấu trừ thuế GTGT thì người nộp thuế được kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo quy định.

 Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại Công văn 4464/TCT-CS ban hành bởi Tổng Cục thuế vào ngày 21 tháng 10 năm 2020 trả lời Cục thuế TP Hà Nội về các trường hợp trên, trường hợp doanh nghiệp Việt Nam mua hàng hóa từ doanh nghiệp nước ngoài sau đó bán lại cho các doanh nghiệp khác với cùng điều kiện giao hàng tại cảng biển hoặc sân bay tại Việt Nam thì không được áp dụng thuế suất 0% và thuộc đối tượng chịu thuế theo quy định, người bán phải lập hóa đơn, tính và kê khai thuế GTGT đầu ra khi bán hàng hóa cho khách hàng theo quy định. Do hướng dẫn này không nêu rõ “doanh nghiệp khác” là doanh nghiệp chế xuất hay doanh nghiệp nội địa, nên có thể hiểu với hướng dẫn này thì kể cả trường hợp khách hàng là doanh nghiệp chế xuất thì Người bán tại Việt Nam có thể vẫn phải xuất hóa đơn với thuế suất thuế GTGT 10% cho doanh nghiệp chế xuất.

Thuế Nhà thầu nước ngoài (“Thuế NTNN”)

Thuế nhà thầu đối với hoạt động bán hàng tại kho ngoại quan

Công văn số 3997/TCT-CS do Tổng Cục thuế ban hành ngày 24 tháng 09 năm 2020 hướng dẫn:

  • Trường hợp công ty nước ngoài sử dụng kho ngoại quan làm kho hàng hóa để phụ trợ cho hoạt động vận tải quốc tế, quá cảnh chuyển khẩu, lưu trữ hàng hoặc để cho doanh nghiệp khác gia công thì không thuộc đối tượng nộp thuế TNDN tại Việt Nam.
  • Trường hợp công ty nước ngoài giao gia công cho doanh nghiệp trong khu chế xuất để sản xuất hàng hóa, sau đó đưa hàng hóa vào kho ngoại quan để bán cho các khách hàng ở nước ngoài, hàng hóa được chuyển giao quyền sở hữu tại kho ngoại quan trước khi xuất khẩu ra nước ngoài thì công ty nước ngoài thuộc đối tượng nộp thuế TNDN tại Việt Nam.

Thuế nhà thầu đối với hoạt động chuyển quyền sở hữu trong kho ngoại quan

Trường hợp tổ chức, cá nhân nước ngoài sử dụng kho ngoại quan, cảng nội địa (ICD) làm kho hàng hóa để phụ trợ cho hoạt động vận tải quốc tế, quá cảnh, chuyển khẩu, lưu trữ hàng thì thuộc đối tượng không áp dụng Thông tư số 103/2014/TT-BTC. Tổ chức, cá nhân nước ngoài có phát sinh thu nhập từ việc chuyển quyền sở hữu hàng hóa theo hình thức quá cảnh qua lãnh thổ Việt Nam theo quy định pháp luật thì không chịu thuế GTGT và thuế TNDN đối với nhà thầu nước ngoài theo Khoản 5 Điều 2 Thông tư số 103/2014/TT-BTC. Trên đây là hướng dẫn tại Công văn số 85109/CT-TTHT của Cục thuế TP Hà Nội ban hành ngày 22 tháng 09 năm 2020.

Thuế Thu nhập cá nhân (“Thuế TNCN”)

Thuế TNCN đối với người lao động nước ngoài chưa quay lại Việt Nam làm việc do ảnh hưởng của COVID-19

 Công văn số 10209/CT-TTHT ban hành ngày 16 tháng 10 năm 2020 của Cục thuế tỉnh Đồng Nai hướng dẫn trường hợp do ảnh hưởng bởi COVID-19, cá nhân người lao động nước ngoài của Công ty chưa qua lại Việt Nam làm việc, thời gian có mặt tại Việt Nam của cá nhân dưới 183 ngày, tuy nhiên vẫn phát sinh lương do Công ty chi trả tại Việt Nam, thì:

  • Công ty căn cứ vào thời gian làm việc tại Việt Nam của người nộp thuế ghi trên Hợp đồng hoặc văn bản cử sang làm việc tại Việt Nam để tạm khấu trừ thuế TNCN theo quy định tại tiết b.3 điểm b khoản 1 Điều 25 Thông tư số 111/2013/TT-BTC, cụ thể: tổ chức, cá nhân trả thu nhập căn cứ vào thời gian làm việc tại Việt Nam của người nộp thuế ghi trên Hợp đồng hoặc văn bản cử sang làm việc tại Việt Nam để tạm khấu trừ thuế theo Biểu lũy tiến từng phần (đối với cá nhân có thời gian làm việc tại Việt Nam từ 183 ngày trong năm tính thuế) hoặc theo Biểu thuế toàn phần (đối với cá nhân có thời gian làm việc tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm tính thuế).
  • Trường hợp cá nhân người nước ngoài thực tế có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày nhưng có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo quy định tại điểm b, Khoản 1 Điều 1 Thông tư số 111/2013/TT-BTC mà cá nhân không chứng minh được là cá nhân cư trú của nước nào, thì cá nhân này được xác định là cá nhân cư trú tại Việt Nam, khi đó:
  • Nếu cá nhân ký ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên với Công ty và thực tế đang làm việc tại Công ty vào thời điểm quyết toán thuế (hợp đồng lao động vẫn còn hiệu lực), thì cá nhân thuộc trường hợp được ủy quyền cho Công ty quyết toán thuế TNCN thay năm 2020.
  • Nếu cá nhân không ký hợp đồng lao động, hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng với Công ty, thì cá nhân không thuộc trường hợp được ủy quyền quyết toán thuế cho Công ty. Công ty thực hiện cấp chứng từ khấu trừ thuế để cá nhân thực hiện thủ tục tự quyết toán thuế với cơ quan thuế theo quy định.
  • Trường hợp cá nhân người nước ngoài thực tế có mặt ở Việt Nam dưới 183 ngày và không có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 1 Thông tư số 111/2013/TT-BTC, thì cá nhân này được xác định là cá nhân không cư trú tại Việt Nam. Công ty thực hiện khấu trừ thuế TNCN theo mức thuế suất 20% trên tổng thu nhập chịu thuế và không thực hiện quyết toán thuế TNCN theo quy định.

Chi phí đặt vé máy bay, đưa đón, khách sạn cho chuyên gia nước ngoài sang Việt Nam làm việc phải cách ly 14 ngày do COVID-19

 Theo Công văn số 2548/CT-TTHT ngày 01 tháng 09 năm 2020 của Cục Thuế TP Hải Phòng, trường hợp Công ty có phát sinh chi phí để thuê trọn gói dịch vụ đặt vé máy bay, đưa đón, khách sạn cho chuyên gia người nước ngoài sang Việt Nam làm việc phải thực hiện cách ly 14 ngày do dịch bệnh COVID-19 thì:

  • Trường hợp chuyên gia là người lao động của Công ty ở nước ngoài được cử sang Việt Nam công tác, nếu đủ điều kiện được xác định là công tác phí theo chính sách và các quy định về đi công tác của Công ty nước ngoài thì không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN tại Việt Nam. Phần chi công tác phí vượt mức quy định được tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.
  • Trường hợp chuyên gia là cá nhân ký hợp đồng lao động với Công ty Việt Nam thì những khoản chi phí Công ty chi ở trên cũng là khoản lợi ích mà người lao động được hưởng và phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công của người lao động. Riêng chi phí khách sạn Công ty trả hộ người lao động sẽ tính vào thu nhập chịu thuế theo số thực tế trả hộ nhưng không quá 15% tổng thu nhập chịu thuế phát sinh (chưa bao gồm tiền thuê nhà) tại đơn vị không phân biệt nơi trả thu nhập.

Chi phí làm và gia hạn thư mời, thị thực, giấy phép lao động, thẻ tạm trú cho người lao động nước ngoài

Công văn số 2623/CT-TTHT ngày 07 tháng 09 năm 2020 của Cục thuế TP Hải Phòng hướng dẫn nếu các khoản chi phí làm và gia hạn thư mời, thị thực, giấy phép lao động, thẻ tạm trú cho người lao động nước ngoài do Công ty chi trả để người lao động nước ngoài đủ điều kiện vào làm việc tại Việt Nam là trách nhiệm của Công ty thì các khoản chi phí này không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công của người lao động nước ngoài.

 Khấu trừ thuế TNCN đối với lao động dưới 03 tháng hoặc lao động thử việc

Công văn số 3197/CT-TTHT ngày 08 tháng 10 năm 2020 của Cục thuế tỉnh Bắc Ninh hướng dẫn về trường hợp Công ty ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng hoặc hợp đồng thử việc 02 tháng với người lao động mới nhưng trước đó người lao động này trong năm tính thuế đã làm việc và nhận thu nhập tại công ty khác thì không thuộc trường hợp được cam kết với Công ty để tạm thời không phải khấu trừ thuế TNCN. Trường hợp Công ty chi trả từ 2.000.000 đồng/lần trở lên cho các lao động này thì Công ty khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho người lao động.

Xác định thu nhập chịu thuế TNCN đối với khoản trợ cấp về điện thoại và tiền ăn ca

 Ngày 06 tháng 10 năm 2020, Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh ban hành Công văn số 3185/CT-TTHT hướng dẫn về thu nhập chịu thuế TNCN với các khoản trợ cấp như sau:

  • Trợ cấp điện thoại: Trường hợp khoản chi tiền điện thoại cho cá nhân nếu được ghi cụ thể điều kiện được hưởng và mức được hưởng tại một trong các hồ sơ sau: Hợp đồng lao động; Thỏa ước lao động tập thể; Quy chế tài chính của Công ty; Quy chế thưởng do Giám đốc quy định theo Quy chế tài chính của Công ty được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN thì không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động. Nếu đơn vị chi tiền điện thoại cho người lao động cao hơn mức khoán chi quy định thì phần chi cao hơn mức khoán chi phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.
  • Trợ cấp tiền ăn ca: Mức chi tiền ăn giữa ca tối đa do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định đối với doanh nghiệp nhà nước hiện nay là 730.000 đồng/người/tháng. Giám đốc Công ty tham khảo mức chi hiện hành này và thống nhất với Chủ tịch Công đoàn để quyết định mức chi ăn ca cho người lao động của Công ty mình. Trường hợp mức chi tiền ăn ca cao hơn mức trên thì phần chi cao hơn phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động.

 

Hóa đơn

 

Hướng dẫn điều chỉnh hóa đơn điện tử

 

Ngày 16 tháng 10 năm 2020, Cục thuế tỉnh Đồng Nai đã ban hành Công văn số 10186/CT-TTHT hướng dẫn trường hợp Công ty sử dụng các hóa đơn có sai sót mà các sai sót này không ảnh hưởng đến các chỉ tiêu như: số lượng, đơn giá, thành tiền, thuế suất, ghi đúng mã số thuế người mua và thực tế Công ty có cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng, do số lượng hóa đơn sai sót nhiều nên để tạo điều kiện cho doanh nghiệp thì Cục thuế hướng dẫn điều chỉnh như sau:

  • Nếu người mua yêu cầu điều chỉnh hóa đơn thì người bán và người mua phải lập văn bản thỏa thuận có chữ ký điện tử của cả hai bên ghi rõ sai sót, đồng thời lập hóa đơn điện tử điều chỉnh cho từng hóa đơn có sai sót theo Khoản 2, Điều 9 Thông tư số 32/2011/TT-BTC; và cam kết chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật về các hóa đơn đó.
  • Nếu người mua không yêu cầu điều chỉnh hóa đơn thì Công ty lập Bảng kê điều chỉnh theo từng số hóa đơn có sai sót và cam kết chịu hoàn toàn trước pháp luật đối với các hóa đơn đó.

Công ty tổng hợp các hồ sơ đã lập nêu trên và báo cáo Cục Thuế để xử lý vi phạm về hóa đơn theo quy định. Đối với các số hóa đơn chưa sử dụng hết, Công ty thực hiện hủy theo quy định.

Xử lý hóa đơn điện tử đã lập có sai sót

Theo Công văn số 5546/CT-TTHT của Cục Thuế tỉnh Bắc Giang ban hành ngày 06 tháng 10 năm 2020:

  • Trường hợp hóa đơn điện tử đã lập có sai sót nhưng chưa gửi cho người mua thì người bán thực hiện hủy hóa đơn điện tử đã lập có sai sót và lập hóa đơn điện tử mới gửi cho người mua. Hóa đơn điện tử đã hủy phải được lưu trữ phục vụ việc tra cứu của cơ quan nhà nước có thẩm quy.
  • Trường hợp nhiều hóa đơn điện tử đã lập và gửi cho cùng một người mua, đã kê khai thuế, sau đó phát hiện sai sót thì người bán và người mua thực hiện lập chung 01 văn bản thỏa thuận có chữ ký điện tử của cả hai bên ghi rõ sai sót, đồng thời lập hóa đơn điện tử cho từng số hóa đơn sai sót theo hướng dẫn Khoản 2, Điều 9, Thông tư 32/2011/TT-BTC. Trường hợp người mua không có chữ ký điện tử thì người bán và người mua lập văn bản thỏa thuận bằng giấy ghi rõ sai sót có chữ ký của người bán và người mua.

 Hóa đơn điện tử chuyển đổi sang hóa đơn giấy

 Công văn số 4023/TCT-CS của Tổng cục Thuế ban hành ngày 25 tháng 09 năm 2020 hướng dẫn:

  • Trường hợp chuyển đổi hóa đơn điện tử sang hóa đơn giấy để chứng minh nguồn gốc xuất xứ hàng hóa hữu hình trong quá trình lưu thông và chỉ được chuyển đổi một lần thì hóa đơn điện tử chuyển đổi sang hóa đơn giấy để chứng minh nguồn gốc xuất xứ hàng hóa phải đáp ứng các quy định tại Khoản 2 (về điều kiện đáp ứng), Khoản 3 (về giá trị pháp lý), Khoản 4 (về ký hiệu riêng), Điều 12, Thông tư số 32/2011/TT-BTC và phải có chữ ký người đại diện pháp luật của người bán, dấu của người bán.
  • Trường hợp chuyển đổi hóa đơn điện tử sang hóa đơn giấy để phục vụ việc lưu trữ chứng từ kế toán theo quy định của Luật Kế toán thì phải đáp ứng các quy định tại Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4 tại Điều 12 của Thông tư số 32/2011/TT-BTC.

Hóa đơn GTGT đối với chi phí bồi thường hợp đồng

 Theo hướng dẫn của Công văn số 3234/CT-TTHT ngày 13 tháng 10 năm 2020 của Cục thuế tỉnh Bắc Ninh về việc xuất hóa đơn đối với chi phí bồi thường do vi phạm hợp đồng kinh tế với khách hàng:

  • Trường hợp Công ty chi khoản bồi thường bằng tiền, khi chi tiền, Công ty lập chứng từ chi tiền và không phải xuất hóa đơn cho bên nhận bồi thường.
  • Trường hợp Công ty bồi thường bằng hàng hóa, dịch vụ, Công ty phải lập hóa đơn và kê khai, tính, nộp thuế GTGT như đối với bán hàng hóa, dịch vụ.

Điều chỉnh và kê khai doanh thu do thực hiện chiết khấu thương mại

 Công văn số 6398/CT-TTHT của Cục thuế tỉnh Hải Dương ban hành ngày 07 tháng 10 năm 2020 hướng dẫn trường hợp Công ty thực hiện chương trình chiết khấu thương mại cho khách hàng đạt doanh số trong năm quy định tại hợp đồng và phụ lục hợp đồng như sau:

  • Nếu khoản chiết khấu thương mại được tính điều chỉnh trên hoá đơn bán hàng hoá của lần mua kỳ tiếp sau, giá tính thuế GTGT là giá bán đã chiết khấu thương mại dành cho khách hàng đồng thời công ty kê khai doanh thu bán hàng (đã giảm) tại kỳ lập hoá đơn điều chỉnh.
  • Nếu khoản chiết khấu thương mại được lập khi kết thúc chương trình công ty lập hoá đơn điều chỉnh (kèm bảng kê các hoá đơn cần điều chỉnh) thì công ty căn cứ vào thời điểm phát hành báo cáo tài chính ghi giảm doanh thu kỳ báo cáo hoặc kỳ phát sinh, cụ thể: nếu phát sinh trước thời điểm phát hành báo cáo tài chính thì ghi giảm doanh thu trên báo cáo tài chính của kỳ lập báo cáo (kỳ trước), nếu phát sinh sau thời điểm phát hành báo cáo tài chính thì ghi giảm doanh thu của kỳ phát sinh (kỳ sau).

 Cập nhật về Hải quan

 Quy định về thuế nhập khẩu, thuế GTGT đối với hàng tạm xuất tái nhập

 Vào ngày 6/10/2020, Cục Hài quan TP Hồ Chí Minh ban hành Công văn số 2903/HQHCM-TXNK, theo đó, trường hợp hàng hóa tạm xuất, tái nhập để sửa chữa, có thay thế linh kiện vật tư không theo điều kiện bảo hành của hợp đồng mua bán, không đáp ứng quy định tại Điều 13 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 thì không thuộc đối tượng được miễn thuế nhập khẩu; không thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT theo quy định tại khoản 20 Điều 5 Luật Thuế GTGT số 13/2008/QH12 và các Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thuế GTGT.

Về giá trị tính thuế, đối với hàng hóa nhập khẩu là hàng hóa đưa ra nước ngoài sửa chữa, khi nhập khẩu về Việt Nam thuộc đối tượng chịu thuế thì trị giá hải quan là chi phí thực trả để sửa chữa hàng hóa nhập khẩu phù hợp với các chứng từ liên quan đến việc sửa chữa hàng hóa.

Chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu phải tái nhập để sửa chữa sau đó tiếp tục xuất khẩu

 Vào ngày 7/10/2020, Tổng cục Hải quan (“TCHQ”) đã ban hành Công văn 10897/TXNK-CST hướng dẫn xử lý vướng mắc liên quan đến chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu phải tái nhập để sửa chữa sau đó tiếp tục xuất khẩu. Theo đó, hàng hóa xuất khẩu đã nộp thuế xuất khẩu nhưng phải tái nhập được hoàn thuế xuất khẩu và không phải nộp thuế nhập khẩu nếu đáp ứng điều kiện hàng hóa chưa qua sử dụng, gia công, chế biến.

Hàng hóa tái nhập về để sửa chữa sau đó tiếp tục xuất khẩu thì khi xuất khẩu phải kê khai, nộp thuế xuất khẩu (nếu có) theo quy định.

Về mã loại hình, trường hợp doanh nghiệp tái nhập hàng xuất khẩu bị trả lại để sửa chữa (tái chế) sau đó tái xuất chính hàng hóa đó cho khách hàng nước ngoài thì khi tái nhập sử dụng mã loại hình A31, khi tái xuất sử dụng mã loại hình B13.

Xử lý vướng mắc trong việc thực hiện Hiệp định thương mại tự do giữa Liên Minh châu Âu và Việt Nam (“EVFTA”)

 Vào ngày 05/10/2020, TCHQ ban hành Công văn 6464/TCHQ-GSQL xử lý các vướng mắc trong việc thực hiện EVFTA như sau:

  • Chứng từ tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa trong trường hợp người bán hàng có trụ sở tại lãnh thổ của nước không phải thành viên EVFTA: theo quy định tại Thông tư 11/2020/TT-BTC, nhà xuất khẩu là cá nhân, tổ chức có trụ sở đặt tại Nước thành viên xuất khẩu, xuất khẩu hàng hóa sang nước thành viên khác, có khả năng chứng minh được xuất xứ hàng hóa…” Theo đó, việc kiểm tra tính hợp lệ của chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa được căn cứ quy định tại Thông tư số 38/2018/TT-BTC (sửa đổi bổ sung tại Thông tư số 62/2019/TT-BTC) và các văn bản có liên quan;

 

  • Chứng từ tự chứng nhận xuất xứ cho lô hàng bao gồm nhiều chủng loại hàng hóa có xuất xứ từ nhiều nước thành viên hoặc khai báo xuất xứ trên chứng từ thương mại cho cả hàng hóa không có xuất xứ EU:
  • Theo thông báo từ Hải quan EU, đối với khai báo về xuất xứ hàng hóa quy định tại Mẫu lời văn khai báo xuất xứ hàng hóa ban hành tại Phụ lục VII, Thông tư 11/2020/TT-BCT, người xuất khẩu EU khai báo xuất xứ “EU” hoặc “European Union”, không khai báo xuất xứ theo tên của một nước Châu Âu. Trường hợp cơ quan hải quan tiếp nhận chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa khai báo xuất xứ theo tên một nước Châu Âu thì phải gửi báo cáo TCHQ để được hướng dẫn.
  • Theo quy định về tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa, nhà xuất khẩu tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa trên hóa đơn, phiếu giao hàng hoặc chứng từ thương mại khác có đủ thông tin về hàng hóa. Theo đó chứng từ thương mại khai báo cả hàng hóa không có xuất xứ EU và hàng hóa có xuất xứ EU sẽ không làm ảnh hưởng đến tính hợp lệ trong khai báo tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa với điều kiện tự khai báo xuất xứ cho các hàng hóa xuất xứ EU đáp ứng quy định hiện hành.
  • Kiểm tra mã số REX: Để kiểm tra tính hợp lệ của mã số REX của Công ty xuất khẩu Châu Âu, kiểm tra trên trang thông tin điện tử: https://ec.europa.eu/taxation_customs/dds2/eos/rex_validation.jsp?Lang=en
  • Xử lý thuế đối với các lô hàng nhập khẩu đăng ký tờ khai hải quan nhập khẩu từ ngày 1/8/2020 đến trước ngày 18/9/2020 (ngày bắt đầu hiệu lực của Nghị định 111/2020/NĐ-CP): thực hiện theo Mục 3.1, Công văn 6283/TCHQ-TXNK ngày 24/09/2020